Tình hình thực hiện an sinh xã hội cho phụ nữ và trẻ em gái ở Việt Nam - Thành tựu và thách thức.
05:33 18/07/2019
Tình hình thực hiện an sinh xã hội cho phụ nữ và trẻ em gái ở Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận nhưng bên cạnh đó còn rất nhiều thách thức đòi hỏi các cấp lãnh đạo cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động để hoàn thành những kế hoạch đã đặt ra.

Chú trọng việc thúc đẩy việc làm bền vững và giảm nghèo

Đảm bảo tiếp cận bình đẳng tới việc làm

Một số thành tựu:

- Tỷ lệ tham gia LLLĐ của lao động nữ Việt Nam ở mức khá cao so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới(71,2% -ILSSA, 2017).

- Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ thấp hơn nam.

- Khoảng cách tiền lương theo giới ở Việt Nam có xu hướng thu hẹp dần, từ mức 0,83[1] năm 2012 xuống 0,88 năm 2017 (ILSSA, 2017).

- Tỷ trọng lao động nữ trong tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã tăng khá nhanh trong thời gian gần đây, từ 22,9% năm 2002 lên 39,6% năm 2017 (DoLAB, 2017).

- Có nhiều chương trình, dự án hỗ trợ khởi nghiệp và sinh kế nhằm tăng cơ hội việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp cho phụ nữ từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ và sản xuất.

Một số hạn chế:

- Lao động nữ vẫn chiếm tỷ trọng cao ở những nghề không đòi hỏi trình độ CMKT.

- Lao động nữ và nam vẫn tập trung phần lớn ở nhóm lao động tự làm và lao động gia đình.

- Khoảng cách giới về tiền lương và thu nhập vẫn tồn tại, mặc dù đã có xu hướng thu hẹp dần.

- Phân biệt đối xử trong lao động - việc làm vẫn tiếp tục tồn tại dai dẳng trong thực tế.

       - Gánh nặng gia đình, công việc chăm sóc không lương  tiếp tục là rào cản đối với phụ nữ Việt Nam trong tham gia LLLĐ, tiếp cận việc làm tốt và thăng tiến trong nghề nghiệp.

     - Định kiến giới về vai trò và năng lực của phụ nữ trong công việc, phát triển nghề nghiệp và lãnh đạo vẫn tiếp tục là rào cản đối với lao động nữ trong tìm kiếm việc làm bền vững và có thu nhập cao hơn.

     - Lao động nữ DTTS chịu nhiều khó khăn, thiệt thòi hơn do những hạn chế kép về giới và dân tộc trên thị trường lao động.

Giảm nghèo

Thành tựu:

Trong gần 30 năm qua, Việt Nam là quốc gia có thành tựu giảm nghèo nổi bật trong khu vực và trên thế giới. Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam đã rất giảm mạnh, từ 58.1% (năm 1993) xuống 8.23% (năm 2017) (MoLISA, 2017).

Hạn chế:

Trong số những hộ nghèo, vẫn còn một số nhóm nghèo “dai dẳng”, rất khó thoát nghèo.


Ảnh minh họa.


Tiếp cận bảo hiểm xã hội toàn diện

Một số thành tựu:

- Tỷ lệ lao động, trong đó có lao động nữ được tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH ngày càng tăng lên.

- Chính sách BHXH ngày càng được cải cách theo hướng mở rộng đối tượng tham gia và thúc đẩy bình đẳng giới, sẽ mang lại lợi ích tốt hơn cho lao động nữ.

Một số hạn chế:

- Chính sách BHXH tự nguyện chưa có chế độ thai sản.

- Số liệu về đối tượng tham gia, đối tượng thụ hưởng của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp đều chưa phân tách theo giới tính. (GSO, 2012a).

Trợ giúp xã hội

Một số thành tựu:

- Chính phủ Việt Nam cam kết dành khoảng 2.6% tổng GDP hàng năm cho các chính sách, chương trình về TGXH cho các nhóm đối tượng yếu thế nhất trong xã hội, trong đó có phụ nữ và trẻ em gái (Kidd et al., 2016).

- Một số chính sách TGXH đã quan tâm nhất định đến nhu cầu đặc thù của đối tượng là phụ nữ và trẻ em gái.

Một số hạn chế:

- Các dịch vụ trong các cơ sở BTXH chưa quan tâm đầy đủ tới nhu cầu và điều kiện thực tế của một số nhóm đối tượng.

- Quy định về thống kê đối tượng TGXH chưa bảo đảm phân tách theo giới tính.

- Thống kê nạn nhân bạo lực giới chủ yếu qua báo cáo hành chính, chưa đảm bảo chính xác.

- Phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn nhân của bạo lực giới còn hạn chế, thiếu về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng dịch vụ cung cấp.

Đảm bảo mức tối thiểu một số dịch vụ xã hội cơ bản

- Đảm bảo giáo dục tối thiểu

- Tiếp cận dịch vụ y tế tối thiểu

- Đảm bảo nhà ở tối thiểu

- Tiếp cận nước sạch

- Tiếp cận thông tin

Vụ Hợp tác quốc tế

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội



[1]Tiền lương bình quân/tháng của lao động nữ chỉ bằng 0,83 tiền lương bình quân/tháng của lao động nam